Thuật ngữ lô đề xuất hiện trong trao đổi về người tham gia, bảng số và cách quy đổi tiền. Hiểu các từ này giúp người mới theo kịp hướng dẫn mà không lẫn giữa một loại cược, một khoản phí và một đơn vị điểm. RWIN chia từ vựng thành từng nhóm, giữ những ví dụ quen thuộc để việc tra cứu thuận tiện hơn.
Mục Lục
Từ ngữ chỉ người và vai trò
Đề thủ là tên gọi người trực tiếp chọn số, gửi lựa chọn và tham gia cược. Trong tiếng lóng, người quá mê chơi số đôi khi được gọi là “ma đề”.
Thầu đề hay đại lý thường đứng giữa người chơi và bên nhận cược. Họ tập hợp lựa chọn, chuyển dữ liệu và nhận phần chia theo thỏa thuận.
Thư ký đề còn được gọi là người báo bảng hoặc cò đề trong một số cách nói. Công việc thường gắn với thu nhận bảng, ghi chép và chuyển thông tin giao dịch. Vai trò cụ thể có thể khác với người chịu trách nhiệm thanh toán cuối cùng, nên hai tên không phải lúc nào cũng chỉ cùng một người.
Nhà cái là bên đặt điều kiện nhận cược, thu tiền và thanh toán theo kết quả. Hoạt động ấy có yêu cầu về vốn và xử lý các khoản trả. Tên nhà cái trong lô đề cũng khác công ty phát hành vé xổ số kiến thiết, dù kết quả xổ số có thể là căn cứ của giao dịch.
Các khái niệm liên quan đến tiền
Tiền xác là khoản dùng cho lựa chọn đã ghi, thường được hiểu là vốn hoặc chi phí tham gia. Tổng tiền phụ thuộc số cặp, số điểm và số kỳ. Chọn thêm một dàn thay vì một số sẽ làm chi phí cộng dồn thay đổi ngay cả khi mức mỗi lựa chọn giữ nguyên.
Hoa hồng hoặc tiền phế là khoản thu hay phần chia theo thỏa thuận. Muốn hiểu cần xác định ai trả, ai nhận và cơ sở tính. Phí là một khoản tiền trong giao dịch, không làm xác suất xuất hiện của con số thay đổi.
Tiền chênh lệch nói tới phần khác nhau giữa các khoản thu và chi. Trong một phép tổng kết, cần tính cả tiền trả, phí và các chi phí liên quan. Phần chênh có thể dương hoặc âm; tên gọi này không phải lời bảo đảm bên nhận cược luôn có lời.
Tiền hoàn trả là khoản được tính lại cho thành viên theo chương trình, chẳng hạn dựa vào doanh số hợp lệ. Điều kiện có thể tính cả vé thắng lẫn vé thua. Đây là mục riêng với tiền thắng của một vé, nên lịch sử thường ghi tách để dễ đối chiếu.
Số dư là khoản hiển thị trong tài khoản ở thời điểm xem. Một ví có thể chứa tiền nạp và tiền thưởng, nhưng quyền sử dụng hoặc rút của từng phần có thể khác. Tiền khuyến mãi là khoản được cấp theo sự kiện như nạp đầu, giới thiệu thành viên hoặc một chương trình định kỳ.

Từ vựng về cách tổ chức số
Bộ lô và những cách chọn ít số
Bộ lô thường tập hợp các số hai chữ số có liên hệ theo một quy ước. Bạch thủ chỉ một số được chọn, song thủ là hai số, còn lô kép thường gợi các số lặp như 11 hoặc 22. Những từ này giúp rút gọn mô tả một danh sách khi trao đổi.
Người chơi có thể lập bộ từ bảng kết quả hoặc một phép ghép cụ thể. Tên phương pháp cho biết cách chọn, không tự đi kèm một tỷ lệ trúng cố định. Nếu nhắc một bộ số, kèm danh sách đầy đủ sẽ giúp người khác hiểu chính xác thay vì đoán từ tên gọi.
Dàn đề và khung nuôi
Dàn đề là tập hợp số dùng trong một kỳ hoặc được duy trì qua một khoảng thời gian. “Nuôi ba ngày”, “năm ngày” hay “bảy ngày” nói về độ dài khung dự kiến. Một dàn dưới hai mươi số vẫn cần tính đủ chi phí của từng số trong từng kỳ.
Các cụm “36 ngửa chẵn”, “ngửa 0 sấp 0” hoặc “nuôi gấp đôi” thuộc cách gọi trong cộng đồng về nhóm số hay cách thay đổi khoản tham gia. Danh sách và quy tắc kèm theo giúp diễn giải rõ nội dung. Tăng số lựa chọn hoặc số tiền làm chi phí tăng, không bảo đảm lợi nhuận tăng tương ứng.
Ba càng và bao ba
Ba càng thường xét ba chữ số cuối của giải được chỉ định. Bao ba mở phạm vi sang nhiều kết quả đủ độ dài theo luật sản phẩm. Một cách mô tả có thể nhắc từ giải nhất tới các giải còn lại, nhưng kết quả chỉ hai chữ số không thể cung cấp ba chữ số cuối.
Những từ như lô xiên, lô câm và lô rơi mở rộng cách tổ chức lựa chọn. Xiên kết hợp nhiều số trong cùng điều kiện thắng; câm nói tới nhóm chưa xuất hiện ở phạm vi đang xét; rơi thường nhắc số lặp từ kỳ trước. Kép bằng và kép lệch được đọc cùng bảng quy ước để nhận đúng nhóm.
Những từ thường gặp trên bảng ghi
Lô đề hay số đề chỉ hình thức cược tiền dựa vào kết quả xổ số. Phơi đề, tích đề hoặc tịch đề là bảng ghi các lựa chọn đã nhận. Số, ngày, khoản tiền và thông tin xác nhận giúp bảng này có giá trị đối chiếu khi cần xem lại.
Tỷ lệ ăn là cách biểu thị mức trả so với đơn vị cược. Ví dụ 1:90 diễn đạt một đơn vị tương ứng 90 đơn vị khi điều kiện trúng được đáp ứng theo quy ước bảng. Cần phân biệt số trả tổng và phần lãi nếu cách hiển thị không giống nhau.
Điểm là đơn vị quy đổi tiền. Một điểm đề có thể được minh họa bằng 1.000 đồng. Với điểm lô, các ví dụ 27.000 đồng ở bảng miền Bắc và 18.000 đồng ở bảng miền Trung hoặc miền Nam gắn với cách tính của bảng đang dùng, không phải giá cố định cho mọi giao dịch.
Khi biết giá mỗi điểm, nhân với số điểm và số lựa chọn sẽ ra khoản cần ghi. Sau đó, mức trả cùng số lượt trúng theo luật cho biết cách tính khoản nhận. Tách từng bước giúp tránh lẫn giữa giá một điểm và mức thưởng một điểm.
Hiểu từ để đọc đúng bảng
Các nhóm từ về người, tiền, bộ số và chứng từ liên kết với nhau trong một giao dịch. Nắm được ý nghĩa giúp người mới hỏi rõ điều kiện và theo dõi lịch sử dễ hơn. Đây là nền tảng để đọc hướng dẫn lô đề, thay vì nhầm tên phương pháp với một lời hứa thắng.

